Print (Ctrl+P)

Đại biểu Quốc hội ngành giáo dục nhất trí cao với Đề án đổi mới cơ chế tài chính của giáo dục đào tạo giai đoạn 2009-2014

Tối 22/5, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức cuộc gặp gỡ, trao đổi với hơn 60 Đại biểu Quốc hội là những cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên đang tham dự kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII. Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân và Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội Đào Trọng Thi chủ trì buổi gặp gỡ. Đây là cuộc gặp gỡ thường kỳ của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào mỗi kỳ họp Quốc hội nhằm trao đổi và đề xuất cách giải quyết n

Hai mục tiêu tổng quát của đề án là: Xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục nhằm huy động ngày càng tăng, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng, quy mô giáo dục đào tạo, thực sự coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu; xây dựng hệ thống chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao.

Đề án đề cập 8 nội dung cơ bản, trong đó có nội dung liên quan tới đông đảo người dân và các gia đình là: Đổi mới chính sách học phí đi liền với chính sách hỗ trợ người học.

Quan điểm chủ đạo của đề án là: Chi phí bậc học từ mầm non đến tiểu học, THCS, THPT do nhà nước đầu tư là chính, mức học phí do người dân đóng góp không là gánh nặng tài chính của các gia đình, không vượt quá 6% thu nhập bình quân của hộ gia đình do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định. Chi phí giáo dục nghề nghiệp từ sơ cấp đến trung cấp, cao đẳng, đại học có sự chia sẻ giữa nhà nước và người học. Cùng với chính sách tín dụng sinh viên rộng mở, về bản chất, học phí đào tạo nghề nghiệp của học sinh, sinh viên sẽ là sự vay vốn từ thu nhập của tương lai để đầu tư cho giáo dục hiện tại./.
(TTXVN)


Vào 13:02 Ngày 23 tháng 5 năm 2009, PV Hoàng Như Hoa TTXVN <hoanghoa@moet.edu.vn> đã viết:



Hướng tới công bằng xã hội trong chi trả học phí

Có thể nhận thấy rõ một thực tế, rất nhiều gia đình có điều kiện kinh tế và khả năng chi trả rất tốt ở các đô thị đang nhận được sự ưu đãi lớn của nhà nước trong việc bao cấp học phí như hiện nay. Quan điểm của Đề án này là công bằng xã hội trong trách nhiệm gia đình đóng góp vào chi phí giáo dục cho con em mình là: gia đình có thu nhập thấp thì đóng góp ít hơn là gia đình có thu nhập cao, nhưng cũng không được vượt quá 6% thu nhập trung bình của một hộ gia đình, vì vậy học phí chắc chắn không phải là gánh nặng tài chính cho gia đình người học.. Có quan điểm khác được đề cập về công bằng xã hội khi bàn về học phí là người dân có thu nhập thấp hay cao, đều chỉ đóng học phí một mức như nhau, còn phần rất lớn chi phí học tập cho một học sinh là do nhà nước chịu. Nhà nước phải bao cấp giáo dục cho người có thu nhập thấp và thu nhập cao như nhau. Đề án không dựa theo quan điểm này, mà cho rằng, để có nhiều trẻ có thể đi học được và nâng cao chất lượng giáo dục thì không nên chỉ trông chờ vào bao cấp của nhà nước, mà các hộ dân cần đóng góp theo khả năng của mình. Người có thu nhập cao đóng góp nhiều hơn, người có thu nhập thấp không phải đóng học phí, thậm chí nhà nước còn cấp tiền hàng tháng để các em có điều kiện theo học tốt hơn.

Nhiều ý kiến cho rằng: vì sao không miễn hết học phí cho bậc học mầm non, trong khi trẻ lại được khám chữa bệnh miễn phí? Năm 2008, chúng ta có gần 4 triệu trẻ em mầm non, chi phí giáo dục bình quân cho 1 học sinh là 2,56 triệu đồng/năm. Như vậy nếu miễn phí bậc học này thì sẽ có tới 6 triệu em đi học., Để đưa đuwcj 6 triệu trẻ này tới trường mầm non, nhà nước phải chi là 15.360 tỷ đồng/năm. Trong điều kiện ngân sách giáo dục không tăng, nếu chi như vậy với bậc học đầu tiên này thì chúng ta không còn ngân sách cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề công lập. Tuy nhiên vẫn thiếu khoảng 5374 tỷ đồng nữa, vì thế ngân sách giành cho trung học phổ thông cũng phải cắt giảm, theo đó sẽ có 95% học sinh trung học phổ thông ở các trường công lập phải nghỉ học.

Chúng ta có thể hình dung như sau: nếu dùng kinh phí nhà nước để phổ cập miễn phí bậc học mầm non thì tất cả các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề công lập và hơn 90% các trường trung học phổ thông công lập sẽ phải ngừng hoạt động. Như vậy phương án này không khả thi trong điều kiện xã hội nước ta hiện nay.

Như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nói: Chúng ta đang thực hiện một yêu cầu hết sức nhân văn, đó là không một sinh viên nào đỗ đại học, cao đẳng, trung cấp, đào tạo nghề mà phải bỏ học vì không có điều kiện đóng học phí. Vì vậy, cần khẳng định, cách xác định học phí phổ thông , mầm non và đào tạo nghề nghiệp và cac giải pháp hỗ trợ học tập của Đề án đã thể hiện tính nhân văn cao, là biểu hiện sinh động của định hướng xã hội chủ nghĩa, là tiền đề quan trọng của một xã hội học tập.
Đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo nhằm góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và đảm bảo công bằng trong giáo dục trên toàn quốc. Đề án này trong giai đoạn 2009-2014 chính là nỗ lực sáng tạo của Chính phủ nhằm từng bước giải quyết từng vấn đề bức xúc của xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Chúng ta đang thực hiện Đề án này trong bối cảnh tổng nguồn lực của tòan xã hội giành cho giáo dục và đào tạo là có hạn, nếu càng tăng quy mô thì chất lượng giáo dục sẽ có xu hướng đi xuống , hoặc đặt yêu cầu chất lượng giáo dục phải ngày càng cao, thì quy mô giáo dục phải giảm.

Đề án Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục giai đoạn 2009-2014 của Chính phủ đã nêu rõ 8 giải pháp mang tính căn cốt để có thể từng bước xử lý những mâu thuẫn nói trên.


Box 1 : Cả nước hiện nay đang có 1,7 triệu sinh viên đại học và cao đẳng thì đã có tới 800.000 em đựơc nhà nước cho vay để đi học. ( 47%), trong khí tỷ lệ người nghèo trên cả nước là 15%.

Chế độ học phí ở nước ta đang thực hiện từ năm 1998 mà chưa có thay đổi. Mức học phí quá thấp , dưới khả năng chi trả của người dân vùng đô thị, không phù hopự với mặt bằng giá cả cùng với chính sách tiền lương đã được cải tiến trong những năm qua.


Box2 : Cơ chế tài chính giáo dục gồm 8 nội dung sau đây:

1/ Xác định nhu cầu tài chính cho các mục tiêu phát triển giáo dục. Xác định các nguồn lực từ ngân sách và xã hội và các giải pháp huy động và sử dụng tài chính khả thi và hiệu quả, từ đó bảo đảm cân đối nhu cầu và nguồn lực tài chính bền vững cho phát triển hệ thống giáo dục quốc dân.

2/ Quy định về trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc lập và thực hiện kế hoạch ngân sách giáo dục.

3/ Quy định về nguyên tắc xác định mức học phí mầm non, phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. Quy định về thẩm quyền quyết định mức học phí và xác định mức học phí của các cơ quan trung ương , địa phương và các cơ sở giáo dục .

4/ Xây dựng các chính sách của Nhà nước hỗ trợ việc học tập của nhân dân: quy định đối tượng không phải đóng học phí, đối tượng được hỗ trợ chí phí học tập; đối tượng được hưởng học bổng chính sách và teợ cấp xã hội; đối tượng được vay vốn ưu đãi để đi học . Quy định cơ chế thựuc hiện miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập.
Hoàng Hoa gửi anh thông tin của TTXVN.
http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30106&cn_id=341894

http://www.btv.org.vn/tin-tuc/thoi-su/dai-bieu-quoc-hoi-nganh-giao-duc-nhat-tri-cao-voi-de-an-doi-moi-co-che-tai-chinh-cua-giao-duc-dao-tao-giai-doan-20092014/

Phan Quang Dũng (Mr)
Phó Chánh Văn phòng, Thư ký Bộ trưởng
Deputy Chief of the Office and
Secretary to Minister
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Ministry of Education and Training
49 Dai Co Viet Road, Hanoi, Vietnam
Website : www.moet.gov.vn

Trường
Văn phòng